Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

PVP Land: Đối đáp nhằm xác định rõ mức độ hành vi của từng bị cáo

KIM ANH-NGUYỄN CÚC (TTXVN/VIETNAM+) Bản in
Bị cáo Trịnh Xuân Thanh và các đồng phạm tại Phiên tranh tụng. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Chiều 2/2, tiếp tục phần đối đáp tại Phiên tòa xét xử bị cáo Trịnh Xuân Thanh (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam​-PVC) và các đồng phạm trong Vụ án tham ô tài sản xảy ra tại Công ty Cổ phần bất động sản điện lực dầu khí Việt Nam (PVP Land), các luật sư đã đưa ra nhiều quan điểm đối đáp lại nội dung luận tội của Viện Kiểm sát, trong đó tập trung xoay quanh việc xác định chính xác tỷ lệ sở hữu Nhà nước trong phần thiệt hại của vụ án và mức độ hành vi vi phạm của các bị cáo.

Đề nghị xác định tỷ lệ sở hữu nhà nước trong số cổ phần chuyển nhượng 

Theo quan điểm của Viện Kiểm sát, các bị cáo Trịnh Xuân Thanh (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVC), Đinh Mạnh Thắng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần đầu tư và thương mại Dầu khí Sông Đà), Thái Kiều Hương (nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư Vietsan), Đào Duy Phong (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVP Land), Nguyễn Ngọc Sinh (nguyên Tổng Giám đốc PVP Land), Huỳnh Nguyễn Quốc Duy (trú tại phường 10, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh) đã có sự móc nối, chỉ đạo, thông đồng với các bị cáo Lê Hòa Bình (nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ 1/5 và Công ty Cổ phần Minh Ngân), Nguyễn Thị Kim Thoa (nguyên Kế toán trưởng Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ 1/5 và Công ty Cổ phần Minh Ngân) để thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng tại Dự án Nam Đàn Plaza với giá 34 triệu đồng/m2, thấp hơn giá trị thực tế đã đặt cọc 52 triệu đồng/m2 để lấy số tiền chênh lệch hơn 87 tỷ đồng, chia nhau chiếm đoạt.

Thực tế, các bị cáo đã chiếm đoạt được 49 tỷ đồng trong số tiền hơn 87 tỷ đồng này. Trong đó, bị cáo Trịnh Xuân Thanh đã chiếm đoạt 14 tỷ đồng, bị cáo Đinh Mạnh Thắng đã chiếm đoạt 5 tỷ đồng, bị cáo Đào Duy Phong đã chiếm đoạt 8 tỷ đồng…

Phân tích về các yếu tố cấu thành tội tham ô tài sản, luật sư Nguyễn Huy Thiệp (bào chữa cho bị cáo Đinh Mạnh Thắng) đề nghị Viện Kiểm sát xác định phần sở hữu nhà nước có trong số cổ phần chuyển nhượng hay không, nếu có thì là bao nhiêu. Cần phải làm rõ thực sự tài sản này là của ai? Ai bị chiếm đoạt? Ai là nguyên đơn dân sự?

Chung quan điểm này, luật sư Trần Hồng Phúc (bào chữa cho bị cáo Trịnh Xuân Thanh) yêu cầu tách phần vốn nhà nước tại PVP Land để xác định chính xác những thiệt hại của cổ đông nhà nước.

Việc tham ô chỉ xảy ra đối với tài sản của Nhà nước, do vậy cần xác định tách bạch phần vốn của Nhà nước và phần vốn thuộc sở hữu của các cổ đông, trong tổng số hơn 12 triệu cổ phần của PVP Land tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương.

Luật sư Trần Hồng Phúc phân tích, PVC là công ty cổ phần đại chúng, có nhiều nguồn vốn góp vào chứ không phải chỉ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN). Do đó, khó có căn cứ để tách tài sản của Nhà nước đem đi chuyển nhượng và tính vào phần tiền tham ô...

Trên thực tế, PVP Land sở hữu 50,5% cổ phần tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương, số còn lại là phần vốn góp của cả các cổ đông khác. Vì vậy, không thể coi số tiền thiệt hại là tài sản của riêng Nhà nước (PVC).

Tương tự, luật sư Lê Văn Thiệp Phúc (bào chữa cho bị cáo Trịnh Xuân Thanh) cho rằng, không thể quy kết các bị cáo chiếm đoạt toàn bộ 87 tỷ đồng (số tiền chênh lệch do ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần) vì 28% cổ phần của PVC tại PVP Land chỉ tương đương hơn 3 triệu cổ phần trong tổng số hơn 12 triệu cổ phần do PVP Land chuyển nhượng.

Như vậy, phần chênh lệch mà Nhà nước thất thoát chỉ khoảng 21 tỷ đồng, phần còn lại là sự thiệt thòi của các cổ đông khác, chứ không phải là của riêng Nhà nước.

Về nội dung này, quan điểm của Viện Kiểm sát nêu rõ các bị cáo Đào Duy Phong, Nguyễn Ngọc Sinh và Trịnh Xuân Thanh đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình tại PVP Land và tại PVC trong việc ký hợp đồng chuyển nhượng 12.120.000 cổ phần của PVP Land tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương, tạo ra chênh lệch giá để chiếm đoạt giá trị cổ phần PVP Land trên 87 tỷ đồng. Theo kết luận của Bộ Tài chính, trong đó có phần vốn của PVC (vốn của Nhà nước) do Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt được là 49 tỷ đồng.

[Viện Kiểm sát: Đủ căn cứ truy tố Trịnh Xuân Thanh tội "tham ô tài sản"]

Tranh luận về vai trò thực hiện hành vi của các bị cáo 

Bào chữa cho bị cáo Đinh Mạnh Thắng, luật sư Huỳnh Phương Nam cho rằng, Thắng chỉ là người biết thông tin, có quan hệ thì giới thiệu Thái Kiều Hương gặp Trịnh Xuân Thanh.

Trong bữa ăn tại nhà hàng, bị cáo Thắng cũng không bàn bạc gì về giá chuyển nhượng cổ phần, chỉ đơn thuần là người giới thiệu mối quan hệ.

Luật sư cho rằng, số tiền 5 tỷ đồng mà Thắng nhận từ Hương chỉ đơn thuần là tiền cảm ơn. Số tiền này không phải trong phạm vi Thắng quản lý, không đủ căn cứ cấu thành tội tham ô tài sản.

Về luận điểm này, đại diện Viện Kiểm sát khẳng định: bị cáo Thắng biết rất rõ đó là số tiền mà Thắng và bị cáo Thanh được hưởng từ việc Thắng tác động đến bị cáo Thanh và bị cáo Phong là những người có quyền quyết định trong việc cho phép chuyển nhượng cổ phần của PVP Land tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương.

Khi nhận một số tiền lớn như vậy, bị cáo Thắng buộc phải biết đó là tiền phi pháp, là tiền chênh lệch giá từ việc Đinh Mạnh Thắng tác động đến bị cáo Thanh và bị cáo Phong. Vì vậy, Đinh Mạnh Thắng phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền 5 tỷ đồng này.

Luật sư Nguyễn Như Thái Dũng (bào chữa cho bị cáo Đào Duy Phong, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVP Land) đã phân tích về việc Đào Duy Phong nhận sự chỉ đạo của Trịnh Xuân Thanh để đứng ra thực hiện việc giảm giá chuyển nhượng từ 40 triệu đồng/m2 xuống 34 triệu đồng/m2.

Theo luật sư Dũng, mặc dù giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị, nhưng nếu Đào Duy Phong muốn nghe theo chỉ đạo của Trịnh Xuân Thanh cũng không thể một mình thực hiện được nếu không nhận được sự đồng thuận của các cổ đông PVP Land.

Liên quan số tiền 10 tỷ đồng mà Đào Duy Phong đã chiếm hưởng, luật sư phân tích, trong toàn bộ hồ sơ vụ án, không thể hiện Phong và các bị cáo khác có thỏa thuận về việc “ăn chia” số tiền này.

Ngay tại bản án sơ thẩm ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội liên quan đến thiệt hại trong vụ án lừa đảo của bị cáo Lê Hòa Bình đã xác định rõ trong đó đã bao gồm 10 tỷ đồng mà Phong đã nhận từ Lê Hòa Bình. Bản án này xác định số tiền này đang nằm trong tài khoản của Cục Thi hành án dân sự Hà Nội.

Theo luật sư, với lập luận của Viện Kiểm sát cho rằng số tiền 10 tỷ đồng này là thiệt hại của PVP Land trong vụ án, đồng nghĩa với việc các bị cáo phải nộp lại số tiền này, có nghĩa là bị cáo Phong phải nộp 2 lần.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá dựa vào khoa học hình sự về mặt chủ thể của tội danh tham ô tài sản đối với bị cáo Đào Duy Phong, bởi bị cáo chưa bao giờ quản lý số tiền 10 tỷ đồng này, do đó việc kết tội Tham ô tài sản với bị cáo Phong theo luật sư là chưa đủ điều kiện cấu thành tội phạm.

Ngày 3/2, tiếp tục phần đối đáp giữa đại diện Viện Kiểm sát và các luật sư./. 
https://www.vietnamplus.vn/pvp-land-doi-dap-nham-xac-dinh-ro-muc-do-hanh-vi-cua-tung-bi-cao/487056.vnp

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Ngày mai, em trai ông Đinh La Thăng hầu tòa cùng Trịnh Xuân Thanh

ANTD.VN - Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày mai (24-1), TAND TP Hà Nội tiếp tục khai mở phiên tòa đối với Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm về tội “Tham ô tài sản”, trong đó có Đinh Mạnh Thắng là em trai ông Đinh La Thăng. Vụ án này xảy ra tại Công ty CP Bất động sản Điện lực Dầu khí Việt Nam  – doanh nghiệp chiếm tới gần 88% tiền vốn Nhà nước.
Cụ thể, phiên tòa dự kiến sẽ kéo dài đến ngày 6-2, do Thẩm phán Đặng Thị Thanh Huyền làm chủ tọa. Ngoài ra, HĐXX sơ thẩm ở phiên tòa này còn có Thẩm phán Ngô Thị Ánh – Phó Chánh tòa Hình sự và 3 vị hội thẩm nhân dân. Để bảo đảm phiên xử được thông suốt, Tòa án Hà Nội còn bố trí 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân dự khuyết.
Về phía cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử, VKSND TP Hà Nội giao 2 kiểm sát viên là Phạm Đức Long và Nghiêm Ngọc Hương thực hiện nhiệm vụ tại phiên tòa, đồng thời còn bố trí thêm 1 kiểm sát viên dự khuyết ứng trực tại phiên xử.
Đối với các luật sư, tính đến thời điểm này, vụ án có 16 luật sư tham gia phiên tòa. Trong đó, bị cáo Trịnh Xuân Thanh có 6 luật sư bào chữa (nhóm luật sư bào chữa ở vụ án PVN và PVC); Đinh Mạnh Thắng có luật sư bào chữa là luật sư Nguyễn Huy Thiệp và luật sư Huỳnh Phương Nam.
ảnh 1
Ngày mai 24-1, bị cáo Trịnh Xuân Thanh tiếp tục ra hầu tòa ở vụ tham ô thứ 2
Theo cáo trạng truy tố các bị cáo, Trịnh Xuân Thanh (SN 1966) - nguyên Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam  (PVC); Đào Duy Phong (SN 1958) - nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty CP Bất động sản Điện lực Dầu khí Việt Nam (PVP Land) và Nguyễn Ngọc Sinh (SN 1972) - nguyên Tổng Giám đốc PVP Land cùng bị truy tố về tội “Tham ô tài sản”, theo quy định tại Điều 278-BLHS năm 1999. 
Tiếp đến là Đinh Mạnh Thắng (SN 1962, em trai ông Đinh La Thăng) - nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư và thương mại Dầu khí Sông Đà; Thái Kiều Hương (SN 1973) - nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư Vietsan; Lê Hòa Bình (SN 1954) - nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty CP Xây dựng và dịch vụ 1-5 và Công ty CP Minh Ngân; Nguyễn Thị Kim Thoa (SN 1965) - nguyên Kế toán trưởng Công ty CP Xây dựng và dịch vụ 1-5 và Huỳnh Nguyễn Quốc Duy (SN 1972), trú tại phường 10, quận 3, TP.HCM, cũng bị xét xử về tội “Tham ô tài sản”.
Tài liệu điều tra thể hiện, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Ngọc Sinh và Đào Duy Phong là những người đại diện phần vốn góp và có trách nhiệm quản lý tài sản là cổ phần của PVP Land tại Công ty CP Dịch vụ Xuyên Thái Bình Dương (Công ty Xuyên Thái Bình Dương). Tuy nhiên vì động cơ vụ lợi, bộ 3 nguyên lãnh đạo PVP Land đã móc ngoặc với các đối tượng liên quan để chiếm đoạt tiền của Nhà nước.
ảnh 2
Bị cáo Đinh Mạnh Thắng (em trai ông Đinh La Thăng) thời điểm chưa can án
Cụ thể, năm 2010, Công ty Xuyên Thái Bình Dương là chủ đầu tư Dự án Nam Đàn PLaza (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội), trong đó PVP Land chiếm 12.120.000 cổ phần, tương đương 50,5% vốn góp. Quá trình triển khai dự án này, do gặp khó khăn về tài chính nên PVP Land thoái vốn tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương.
Biết được lý do nêu trên, Công ty CP Minh Ngân do Lê Hòa Bình làm Chủ tịch HĐQT đặt vấn đề mua lại toàn bộ cổ phần của PVP Land tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương. Và rồi thông qua một số đối tượng môi giới, trong đó có Đinh Mạnh Thắng, ngày 2-4-2010, Nguyễn Ngọc Sinh với tư cách đại diện PVP Land ký hợp đồng số 66 bán toàn bộ cổ phần cho Công ty CP Minh Ngân với giá 13.578 đồng/cổ phần, tương ứng với 34 triệu đồng/m2 đất, tại Dự án Nam Đàn PLaza. 
Trong khi đó, vào thời điểm PVP Land có chủ trương thoái vốn tại Công ty Xuyên Thái Bình Dương, các bên đã ký hợp đồng thỏa thuận và đặt cọc mua bán Dự án Nam Đàn Plaza với giá 52 triệu đồng/m2… Bằng phương thức này, Trịnh Xuân Thanh cùng đồng phạm đã tạo ra số tiền chênh lệch giá lên tới 87 tỉ đồng và gây thất thoát cho Nhà nước 49 tỉ đồng. 
Trong số tiền Nhà nước bị thất thoát nêu trên, Trịnh Xuân Thanh đã chiếm đoạt 14 tỉ đồng; Đinh Mạnh Thắng hưởng lợi bất chính 5 tỉ đồng; Đào Duy Phong chiếm đoạt 8 tỉ đồng và Nguyễn Ngọc Sinh chiếm đoạt 2 tỉ đồng. Riêng bị can Đặng Sỹ Hùng (cán bộ PVP Land) chiếm hưởng 20 tỉ đồng. Nhưng quá trình điều tra, Đặng Sỹ Hùng chết nên cơ quan tố tụng quyết định đình chỉ bị can.
Trước đó, quá trình giải quyết vụ án Lê Hòa Bình cùng đồng phạm phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ở một vụ án khác, do Thái Kiều Hương yêu cầu nên Trịnh Xuân Thanh và Đinh Mạnh Thắng đã phải hoàn trả lại 19 tỉ đồng chiếm đoạt. Tương tự, trước khi phiên tòa này mở ra, các bị can, bị cáo chiếm đoạt tiền Nhà nước đều đã cơ bản khắc phục hậu quả. 

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Tai nạn trong trường học, trách nhiệm thuộc về ai?

Cập nhật: 09:26, Thứ 6, 27/10/2017

Chia sẻ lên twitterChia sẻ lên zing meChia sẻ lên facebookIn bàiGửi cho bạn bè
(ANTV) -Thời gian vừa qua liên tiếp các vụ tai nạn đã xảy ra ngay trong trường học. Nhiều vụ tai nạn gây thương tích thậm chí đã có tử vong về người ngay trong chính môi trường trường học. Vấn đề đặt ra hiện nay đó là những vụ tai nạn trong trường học thì trách nhiệm sẽ thuộc về ai ?
Chiều 12/10 cánh cửa trường học Trường Tiểu học Tam Quan 1, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc bất ngờ đổ sập đè lên học sinh lớp 1 khiến em bị thương nặng. Ngày 17/10 Khoảng 90 học sinh trường tiểu học tại xã Thạnh Quới ,huyện Long Hồ, Vĩnh Long,  đang ngồi trong lớp thì bất ngờ trần nhà sập khiến 9 em nhập viện.
Mới đây nhất một sinh viên của trường đại học Hutech đã bị một mảng bê tong rơi trúng ngay giữa sân trường khiến em bị tử vong. Và đáng lo lắng hơn khi mà hàng trăm học sinh trường THPT Trần Nhân Tông hiện đang phải học tập dưới ngôi trường có cơ sở vật chất xuống cấp trầm trọng , nguy cơ đổ ập xuống bất cứ lúc nào .
Em Bùi Diệu Anh - Học sinh lớp 12 A12 Trường THPT Trần Nhân Tông, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nói: Gần đây nhất thì ở lớp em học 12A12 đang học thì rơi một mảng tưởng khá lớn ở bàn giáo viên sau đó 30 phút thì rơi một cái đèn ngay bàn giáo viên. Tâm lý chính của bọn em khá là lo sợ, tại vì không biết là khi nào nhỡ đúng vào chỗ mình ngồi đúng đúng mình đang học thì em khá là lo sợ.  
Những vụ việc trên không chỉ khiến cho học sinh lo lắng bất an mà ngay cả phụ huynh khi mà gửi con đến trường, một môi trường vốn được xem là an toàn nhất cho trẻ thì lại thành nơi hiểm nguy luôn rình rập.
Trở lại câu chuyện cánh cổng trường học Tam quan 1 đè lên học sinh lớp 1 khiến em bị gãy xương đòn bả vai trái. Câu chuyện này sẽ không gây ồn ào trên mạng xã hội nếu như nó nhận được sự quan tâm kịp thời của Nhà Trường.
Thế nhưng khi gia đình phản ánh vụ việc đến nhà trường thì chỉ nhận được sự thờ ơ, thậm chí lãnh đạo nhà trường cho rằng không có trách nhiệm thăm hỏi học sinh .Vậy trách nhiệm này sẽ thuộc về ai khi mà học sinh bị tai nạn ngay trong môi trường học đường.
Luật sư Huỳnh Phương Nam - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội cho biết: Các vụ tai nạn liên quan đến công trình xây dựng, trường học đã có tai nạn thương tâm liên quan đến học sinh. Tôi nghĩ đầu tiên trực tiếp nhà trường phải chịu trách nhiệm về cái việc phát hiện nguyên nhân nguy cơ ảnh hưởng đến học sinh và phải báo cáo cơ quan chức năng, cơ quan thẩm quyền để đánh giá sự cố có tính chất nguy hại, nếu thấy rằng không đủ đảm bảo an toàn cho học sinh thì phải di dời đảm bảo an toàn cho học sinh.
Mới đây thôi, một công trình xây dựng Trường mầm non đang trong quá trình xây dựng thì bất ngờ đổ sập ngay trong đêm. May mắn không có thiệt hại về người, tuy nhiên ai có thể lường trước được hậu quả nếu công trình này được đưa vào sử dụng.
Trường học luôn được xem là nơi an toàn nhất để các gia đình gửi gắm con em, tuy nhiên với những sự cố vừa qua đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề lớn. An toàn các công trình trong trường học cần phải được giám sát chặt chẽ hơn. Và cũng cần làm rõ trách nhiệm nếu sự cố xảy ra.

Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

Đại án Ocean Bank: Luật sư nghẹn ngào tiết lộ về con của thuộc cấp Hà Văn Thắm

"Tôi khẩn thiết mong HĐXX mở lượng khai ân để bị cáo Giang được thực hiện bổn phận của người cha trước khi con không còn thấy ánh sáng".
Đại án Ocean Bank, mổ mắt

Bị cáo Phạm Hoàng Giang tại phiên tòa xét xử Đại án Ocean Bank hôm 20/9.

Sáng 23/9, tại phiên tòa xét xử Đại án Ocean Bank, luật sư Huỳnh Phương Nam và Vũ Gia Trưởng đã tiến hành bào chữa cho bị cáo Phạm Hoàng Giang (Tổng giám đốc Công ty BSC Việt Nam).
Trước đó, ngày 14/9, Giang bị VKS đề nghị mức án 8-9 năm tù giam về tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Tại tòa, luật sư Huỳnh Phương Nam gửi lời cảm ơn VKS sau phần đối đáp chiều qua (22/9) khi đề nghị HĐXX xem xét lại hành vi cấu thành tội phạm của nhóm các bị cáo Công ty BSC và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ những thay đổi so với bản luận tội, luật sư Phương Nam đề nghị HĐXX không kết tội Giang với cáo buộc Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
Nhắc tới hoàn cảnh gia đình bị cáo có bằng tiến sĩ luật, ông Nam cho hay con gái Giang 8 tuổi đang phải điều trị bệnh về mắt, đứng trước nguy cơ mù lòa. “Trong phần tự trình bày bào chữa của Giang, bị cáo đã nêu về tình trạng bệnh của con rất trầm trọng”, báo điện tử Tri thức trẻ dẫn lời luật sư .
Ông Nam thông tin sau phần tự bào chữa đó, các bị cáo có mặt tại tòa đã đóng góp tiền để ủng hộ con thân chủ của mình để chữa bệnh. “Đây là hành động nhân văn, tình người, rất mong HĐXX cân nhắc hoàn cảnh của Giang, xem xét cho bị cáo sớm trở về với gia đình, làm tròn trách nhiệm với người con bệnh tật”, ông Nam đề nghị.
Vị luật sư bào chữa đánh giá, 18 tháng Giang bị tạm giam vừa qua là hình phạt đắt giá cho thân chủ của mình. Theo ông Phương Nam, nếu HĐXX có căn cứ buộc tội thân chủ của mình thì kính mong tòa xem xét tội danh nào nhẹ hơn tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, để Giang được hưởng mức không cách ly khỏi xã hội ngay khi phiên tòa kết thúc.
Ông Vũ Gia Trưởng (luật sư thứ 2 bào chữa cho Phạm Hoàng Giang) sau đó nộp cho HĐXX tập hồ sơ bệnh án của con bị cáo và cho hay cháu bé mới 8 tuổi nhưng đã trải qua nhiều lần phẫu thuật về mắt. "Tôi khẩn thiết mong HĐXX mở lượng khai ân để bị cáo Giang được thực hiện bổn phận của người cha trước khi con không còn thấy ánh sáng", ông Trưởng nói.
Trước đó, như tin đã đưa, tại phiên xét xử Đại án Ocean Bank chiều 20/9 vừa qua, trong phần tự bào chữa của mình, bị cáo Phạm Hoàng Giang cho hay: 
"Con bị cáo bị bệnh bẩm sinh, đã hơn 10 lần phẫu thuật mắt, phải đeo kính 16 độ mới nhìn được, không biết đến ngày bị cáo trở về con bị cáo có nhìn thấy bị cáo không… Xin HĐXX cho bị cáo được trở về xã hội, giúp con mình giữ lại đôi mắt", bị cáo Giang nghẹn ngào nói trước toà.
Theo cáo trạng, Phạm Hoàng Giang được Hà Văn Thắm đưa sang Công ty BSC, bổ nhiệm chức vụ tổng giám đốc nhằm thực hiện mục đích sử dụng công ty này ký các hợp đồng dịch vụ khống để “thu phí” khách hàng, hợp thức hóa tiền thu ngoài lãi suất trong hợp đồng vay vốn và tiền chênh lệch khi bán ngoại tệ.
Quá trình điều tra xác định Phạm Hoàng Giang không biết mục đích thu phí và việc sử dụng tiền phí thu được từ các hợp đồng dịch vụ mà Công ty BSC đã ký với khách hàng. Cáo trạng thể hiện, trong thời gian làm tổng giám đốc BSC, Giang đã ký 721 hợp đồng dịch vụ khống để thu phí hàng chục tỷ đồng.
Số tiền này sau đó Hà Văn Thắm đã sử dụng chi cho Nguyễn Xuân Sơn theo yêu cầu của Sơn và bị bị cáo này chiếm đoạt. Giang bị cáo buộc giúp sức cho Thắm và Sơn lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Trí Dũng (TH)
Theo Đời sống Plus/GĐVN

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Quyền miễn trừ của người bào chữa trong Bộ luật Hình sự 2015

Quyền miễn trừ của người bào chữa trong Bộ luật Hình sự 2015


LSVNO - Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (BLHS 2015). Tuy nhiên, do một số lỗi về mặt kỹ thuật nên ngày 29/6/2016, Quốc hội đã phải ban hành Nghị quyết về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật này đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành. 
Theo đó, ngoài các lỗi kỹ thuật, nhiều vấn đề bất cập cũng được phát hiện cần thiết phải có sự rà soát, chỉnh lý để đảm bảo sự đúng đắn và phù hợp với thực tiễn xã hội và các luật có liên quan. Một trong các vấn đề đó là quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa (thường là luật sư) được dư luận quan tâm và cần có sự nhìn nhận, phân tích một cách thấu đáo trên nhiều khía cạnh để đảm bảo pháp luật được thực thi và đảm bảo quyền hành nghề hợp pháp của luật sư.
qh-5922728d432fa
Quang cảnh kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII
Quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa, tuy không được quy định thành một nguyên tắc nhưng đã được quy định tại Điều 19 BLHS 2015 - Không tố giác tội phạm.
Theo đó, khoản 3 điều luật này quy định: Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Ðiều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.
Xét về mặt hình thức, bằng quy định này, lần đầu tiên BLHS thể hiện quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành vi này (không tố giác tội phạm) trong một số trường hợp; tuy nhiên, thực tế thì cũng sẽ gây nhiều khó khăn, bất lợi cho người bào chữa khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa.
Theo cách hiểu thông thường nhất, bào chữa được hiểu là một hoạt động đưa ra bằng chứng, dùng lý lẽ và căn cứ pháp lý nhằm bênh vực cho người bị quy kết có hành vi phạm tội (có thể gọi là người bị buộc tội). Quyền được bào chữa của người bị buộc tội được biểu hiện thông qua việc họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa cho mình trong các giai đoạn tố tụng. Người bào chữa phải đứng về phía quyền lợi của người bị buộc tội.
Về nguyên tắc chung, người bào chữa (luật sư) được xã hội phân công chức năng gỡ tội - phản biện, làm đối trọng trước sự buộc tội của các cơ quan tố tụng. Vì vậy, người bào chữa phải được người bị tình nghi, bị buộc tội tin tưởng thì mới tiết lộ các thông tin liên quan đến vụ việc mà họ bị tình nghi, bị buộc tội. Nếu người bào chữa tiết lộ các thông tin mà mình biết được về người bị tình nghi, bị buộc tội mà những thông tin đó gây bất lợi hoặc chống lại họ thì sẽ không người nào dám tin tưởng vào người mình dự định mời bào chữa hoặc đang bào chữa cho mình. Và nếu không có sự chia sẻ thông tin một cách trung thực giữa người bị tình nghi, bị buộc tội với người bào chữa thì người bào chữa không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ bào chữa cho thân chủ của mình.
Vì vậy, vấn đề “bí mật thông tin” của khách hàng đối với luật sư phải được đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ của luật sư với khách hàng để bảo đảm tốt nhất lợi ích của khách hàng. Ngay trong các quy định pháp luật của Việt Nam về hành nghề luật sư và quy định tố tụng liên quan đến sự tham gia của luật sư cũng quy định về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng:
- Khoản 1 Điều 9, Điều 25 Luật Luật sư 2006, cũng như quy tắc 12 trong Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư do Hội đồng Luật sư toàn quốc ban hành ngày 20/7/2011 quy định: Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.
- Điểm g khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định người bào chữa có nghĩa vụ: Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản.
Đây chính là sự xung đột pháp luật ngay trong hai bộ luật lớn vừa được ban hành (khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 3 Điều 19 BLHS). Trong khi đó, các quy định về nguyên tắc giữ bí mật thông tin khách hàng của luật sư nêu trên lại phù hợp với nguyên tắc hoạt động nghề nghiệp của luật sư trên thế giới. Tại Hội nghị lần thứ 8 về Phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội của Liên hợp quốc, họp tại Havana, Cuba từ ngày 27/8 đến 07/9/1990, các nước tham dự đã ra Tuyên bố Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, nêu rõ: Về các nhiệm vụ và trách nhiệm, luật sư luôn luôn trung thành tôn trọng lợi ích của khách hàng của mình (điểm 15); đồng thời, các chính phủ thừa nhận và tôn trọng rằng tất cả sự giao tiếp và tư vấn giữa luật sư và thân chủ của họ trong mối quan hệ chuyên nghiệp là bí mật (điểm 22).
Cũng theo đó, nhiều quốc gia trên thế giới đều đề ra nguyên tắc luật sư phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng:
- Quy tắc đạo đức của luật sư Croatia (The Attorneys’ Code of Ethics) được Hội đồng Hiệp hội luật sư Croatia thông qua ngày 18/2/1995, sửa đổi ngày 12/6/1999, quy định: “Luật sư phải bảo vệ bí mật đối với bất kỳ thông tin nào biết được từ khách hàng hoặc trong khi thực hiện hỗ trợ pháp lý, đặc biệt trong quá trình đại diện hoặc biện hộ. Luật sư phải xác định một cách tận tâm những gì khách hàng muốn được bảo vệ như là bí mật của luật sư”. 
- Quy tắc ứng xử của luật sư châu Âu (Code of Conduct for Lawyers in the European Union) thông qua ngày 28/10/1988, sửa đổi ngày 28/11/1998, ngày 06/12/2002 và ngày 19/5/2006, quy định: “Bảo mật là một chức năng của luật sư và được nhà nước bảo hộ đặc biệt, do vậy, luật sư phải tôn trọng bảo mật tất cả các thông tin mà mình biết được trong hoạt động hành nghề”. 
- Trên cơ sở Quy tắc mẫu về ứng xử nghề nghiệp luật sư của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ (ABA Model Rules of Professional Conduct), Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư California 2015 (California rules of professional conduct) cũng quy định tại Chương 3, Quy tắc 3-100 - Bí mật thông tin của khách hàng:
(a) Không được tiết lộ thông tin được bảo vệ khỏi việc tiết lộ theo điểm 6068, phần (e) (1) Bộ luật Kinh doanh và nghề nghiệp mà không có sự đồng ý của khách hàng hoặc theo quy định tại khoản (b) của quy tắc này.
(b) Có thể, nhưng không bắt buộc, tiết lộ thông tin bí mật liên quan đến việc đại diện của một khách hàng trong chừng mực mà luật sư có lý do tin rằng việc tiết lộ là cần thiết để ngăn chặn hành vi phạm tội mà luật sư có lý do tin tưởng có thể dẫn đến tử vong, hoặc tổn hại cơ thể đáng kể đối với một cá nhân.
(c) Trước khi tiết lộ thông tin bí mật để ngăn ngừa một hành vi phạm tội như quy định tại khoản (b), nếu hợp lý trong các trường hợp, phải:
+ Cố gắng thuyết phục khách hàng một cách trung thực: (i) không cam kết hoặc tiếp tục hành vi phạm tội hoặc (ii) theo đuổi quá trình ngăn ngừa cái chết đe dọa hoặc tổn hại cơ thể đáng kể; hoặc làm cả (i) và (ii); và
+ Thông báo cho khách hàng, vào thời điểm thích hợp, về khả năng hoặc quyết định của luật sư để tiết lộ thông tin theo quy định tại khoản (b).
(d) Khi tiết lộ thông tin bí mật như được quy định trong đoạn (b), việc tiết lộ của luật sư không được quá mức cần thiết để ngăn chặn.
- Tương tự như vậy, Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của luật sư bang New York 2009 cũng quy định luật sư không được tiết lộ bí mật thông tin bí mật, hoặc sử dụng các thông tin đó cho bất lợi của khách hàng hoặc cho lợi thế của luật sư hoặc người thứ ba, trừ khi được khách hàng cho phép hoặc để phục vụ tốt nhất lợi ích của khách hàng, hoặc trong các trường hợp khác trong phạm vi luật sư tin rằng hợp lý là cần thiết, ví dụ như để bảo vệ sức khỏe, tính mạng; để ngăn chặn khách hàng phạm tội; để bảo vệ luật sư và nhân viên trước những cáo buộc sai trái,...
- Quy tắc ứng xử nghề nghiệp do Hiệp hội luật sư Canada ban hành năm 2009 cũng quy định: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật tất cả các thông tin liên quan đến kinh doanh và công việc của khách hàng mà mình biết được trong quá trình quan hệ nghề nghiệp và không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào, ngoại trừ được khách hàng rõ ràng hoặc ngụ ý cho phép, theo yêu cầu luật pháp hoặc yêu cầu khác của Quy tắc này”. Từ đó, Quy tắc ứng xử nghề nghiệp luật sư do Đoàn luật sư Quebec - Canada ban hành cũng quy định: Luật sư chỉ có thể tiết lộ bí mật thông tin khách hàng trong một số trường hợp khi có sự cho phép hoặc ngụ ý rõ ràng của khách hàng; để tự bảo vệ mình trong trường hợp tố tụng, khiếu nại hoặc cáo buộc; để ngăn chặn hành động bạo lực, kể cả tự sát, nơi luật sư có lý do hợp lý để tin rằng có một mối nguy hiểm sắp xảy ra về cái chết hoặc thương tích nghiêm trọng đối với một người hoặc cộng đồng...
mt-t12-5922728d21014
Một phiên tòa hình sự.                            (Nguồn: Internet)
Hầu hết mọi sự giải thích cho các nguyên tắc “bí mật khách hàng” nêu trên đều xuất phát từ chức năng và bổn phận của luật sư. Tính bảo mật của luật sư - khách hàng bao gồm đặc quyền của luật sư - khách hàng, học thuyết về sản phẩm làm việc và tiêu chuẩn đạo đức về bảo mật. Các nguyên tắc bảo mật thông tin khách hàng của luật sư áp dụng cho các thông tin liên quan đến việc đại diện, bất kể nguồn của nó từ đâu, trên cơ sở sự tin tưởng của khách hàng đối với luật sư và được bảo vệ bởi “đặc quyền của luật sư - khách hàng” theo các tiêu chuẩn đạo đức về bảo mật, được xác lập theo luật, quy tắc và chính sách.
Như vậy, một trong các lý do mà người bào chữa - luật sư không được tố giác khách hàng chính là xuất phát từ các quy tắc, chuẩn mực về ứng xử và đạo đức nghề nghiệp là phải luôn giữ bí mật thông tin của khách hàng. Từ nguyên tắc bảo đảm bí mật thông tin của khách hàng và tránh xung đột pháp luật, Tuyên bố Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư của Liên hợp quốc về Phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội nêu trên cũng nêu rõ:
- Các chính phủ phải bảo đảm rằng luật sư sẽ không phải chịu, hay bị đe dọa truy tố, hay những trừng phạt hành chính, kinh tế hay những biện pháp trừng phạt khác vì bất kỳ hành động nào thể theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn và quy tắc đạo đức nghề nghiệp được công nhận (tiết c điểm 16).
- Luật sư sẽ không bị đồng hóa với thân chủ hay các mục tiêu của thân chủ chỉ vì luật sư thực hiện chức năng của họ (Điều 18).
- Luật sư được hưởng miễn trừ dân sự và hình sự với những lời lẽ liên quan được phát biểu với thiện ý trong các biện hộ bằng lời nói hay văn bản hoặc trong khi xuất hiện trước tòa, hội đồng xét xử, hoặc cơ quan hành chính hay pháp luật khác (điểm 20).
Mặc dù nguyên tắc miễn trừ này đã được thể hiện tại khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 nhưng cũng quy định không miễn trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.
Trong khi đó, trừ nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia (từ Điều 108 đến Điều 121) thì các tội khác mà người bào chữa phải chịu trách nhiệm khi không tố giác nếu ở mức đặc biệt nghiêm trọng (15-20 năm tù, chung thân hoặc tử hình) được quy định tại Điều 389 BLHS 2015 (tội che giấu tội phạm), thì đó hầu hết là các tội mà luật sư (với vai trò người bào chữa) vẫn thường tham gia. Hơn nữa, Điều 390 BLHS 2015 về tội không tố giác tội phạm cũng chỉ loại trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 mà không loại trừ khoản 3 Điều 19 Bộ luật này.
Mặt khác, nếu quy định chỉ miễn trách nhiệm hình sự cho người bào chữa đối với trường hợp không tố giác người mà mình đã bào chữa cũng gây bất lợi cho người bào chữa. Bởi lẽ, nhiều trường hợp khách hàng tiết lộ các thông tin liên quan đến tội phạm cho luật sư để chuẩn bị mời bào chữa cho mình hoặc người thân của mình, nhưng sau đó lại không mời (vì nhiều lý do). Như vậy, theo nhận thức pháp luật hiện hành thì lúc này họ (luật sư) chưa/không phải là người bào chữa cho người liên quan đến thông tin tội phạm đó. Như vậy, trường hợp này luật sư buộc phải tố giác hành vi của người mà mình chưa/không được mời bào chữa nữa. Và việc tố giác này lại mâu thuẫn với nguyên tắc nghề nghiệp của luật sư là giữ bí mật và bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng.
Có ý kiến cho rằng, một luật sư cũng đồng thời là công dân, cũng phải có nghĩa vụ, trách nhiệm như mọi công dân, có nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội. Tuy nhiên, việc luật sư tố giác khách hàng lại mâu thuẫn với việc luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật của khách hàng. Vậy, liệu người bào chữa - luật sư có đồng thời thực hiện được cả hai nghĩa vụ này hay không? Chỉ khi tin tưởng luật sư thì khách hàng (hoặc người bị buộc tội) mới cung cấp các thông tin bí mật cho luật sư, bao gồm cả các thông tin nếu để lộ sẽ bất lợi cho họ. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định về quyền không buộc phải đưa ra những lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (được hiểu là quyền im lặng) đối với người bị tình nghi, người bị buộc tội.
Như vậy, trong khi những người này được quyền “im lặng”, và “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”  thì không lẽ người bào chữa, người được họ tin tưởng trao đổi thông tin bí mật của mình lại đưa thông tin này ra để tố giác họ?
Nếu không tố giác thì vi phạm pháp luật, vi phạm nghĩa vụ công dân; nếu tố giác thì vi phạm nguyên tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của mình. Và thực tế cho thấy, có lẽ sẽ không có ai mời luật sư là người bào chữa cho mình hoặc người thân của mình nếu luật sư đó đã từng tố giác khách hàng trên cơ sở biết được những thông tin từ họ. Hơn nữa, rất khó có căn cứ để xác định những thông tin mà khách hàng tiết lộ đó là đúng sự thật. Quy định như vậy rất dễ dẫn đến việc tùy tiện áp dụng xử lý người bào chữa, đặc biệt trong tình trạng hiện nay, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng không muốn người bào chữa tham gia tố tụng trong vụ án hình sự khi quan điểm bào chữa khác biệt hoặc ngược lại với quan điểm buộc tội.
Đây là vấn đề rất quan trọng, có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động hành nghề của luật sư. Vì vậy, đề nghị sửa đổi, quy định quyền miễn trừ về tội này đối với người hoạt động nghề nghiệp bào chữa (kể cả người chưa/không được mời bào chữa) khi tiếp nhận thông tin từ khách hàng đến với mình; hoặc chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này đối với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia và ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 4 Điều 9 BLHS 2015).
LS Huỳnh Phương Nam
(Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 4/2017)